Giải pháp đào tạo toàn diện cho Doanh nghiệp

Con người - Quy trình - Công nghệ

Bài tự luận

ĐỀ SỐ 9

Hệ thống ôn tập thi chứng chỉ hành nghề Đấu thầu
Câu 1: Công ty H là doanh nghiệp nhà nước đang tổ chức lập HSMT gói thầu xây dựng công trình văn phòng làm việc kết hợp trung tâm thương mại để sử dụng làm văn phòng làm việc của công ty mình và cho các đơn vị khác thuê để kinh doanh thương mại (hiện Công ty H đang phải đi thuê văn phòng làm việc). Hỏi: Theo quy định, có thể áp dụng phương pháp giá đánh giá đối với gói thầu nêu trên hay không? Trường hợp áp dụng phương pháp giá đánh giá thì những yếu tố nào về kỹ thuật, tài chính, thương mại dùng để xác định giá đánh giá?

Gợi ý trả lời

1. Căn cứ:

  • Điểm a Khoản 2 điều 39 luật đấu thầu
  • Điểm d khoản 4 điều 12 nghị định 63

2. Phân tích
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 39 Luật 43/2013/QH13, phương pháp giá đánh giá áp dụng đối với gói thầu mà các chi phí quy đổi được trên cùng một mặt bằng về các yếu tố kỹ thuật, tài chính, thương mại cho cả vòng đời sử dụng hàng hóa. Đối với gói thầu xây dựng công trình văn phòng làm việc kết hợp trung tâm thương mại  nêu trên, có thể áp dụng phương pháp giá đánh giá. Các yếu tố dùng để xác định giá đánh giá theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 39 Luật 43/2013/QH13, đối với gói thầu này có thể bao gồm các yếu tố như tiến độ thi công xây dựng, chi phí bảo trì, lãi vay và một số yếu tố tài chính, kỹ thuật khác.
Theo Điểm d khoản 4 điều 12 nghị định 63 các yếu tố quy đổi đối với gói thầu xây lắp bao gồm: + Chi phí vận hành, bảo dưỡng;
+ Chi phí lãi vay (nếu có);
+ Tiến độ;
+ Chất lượng;
+ Các yếu tố khác (nếu có).

Câu 2: HSMT Quy định nhà thầu nộp bộ thiết bị mẫu trước thời điểm đóng thầu gồm: bàn học sinh, ghế học sinh, ghế giảng đường, ghế xếp, ghế thí nghiệm, ghế bàn ăn, mẫu ván bàn thí nghiệm. Đến thời điểm đóng thầu, nhà thầu nộp HSDT có kèm theo hàng mẫu nhưng thiếu mẫu ghế bàn ăn và mẫu ván bàn thí nghiệm. Trong trường hợp này nhà thầu có được phép nộp bổ sung hàng mẫu sau thời điểm đóng thầu không?

Gợi ý trả lời

Theo Khoản 2 Điều 12 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.
Theo đó, việc lập E-HSMT phải tuân thủ theo quy định nêu trên. Chủ đầu tư, bên mời thầu, đơn vị tư vấn lập E-HSMT (nếu có) căn cứ vào loại hàng hóa để đưa ra yêu cầu cho phù hợp, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với các nội dung quy định trong E-HSMT.
Việc yêu cầu nhà thầu phải cung cấp hàng mẫu đối với hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường khi áp dụng đấu thầu qua mạng có thể làm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.

Câu 3: Nhà thầu liên danh X+Y+Z tham dự thầu gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn được tổ chức đấu thầu rộng rãi trong nước, phương pháp đánh giá là kết hợp giữa kỹ thuật và giá. Trong đó:
Nhà thầu X và nhà thầu Y có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp; nhà thầu Z là doanh nghiệp được thành lập ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có văn phòng đại diện đặt tại Việt Nam (có giấy phép thành lập văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam cho phép hoạt động trong lĩnh vực phù hợp với gói thầu đang tổ chức lựa chọn nhà thầu). Tỷ lệ khối lượng đảm nhận trong liên danh quy định tại thỏa thuận liên danh là: nhà thầu X đảm nhận 40%, nhà thầu Y đảm nhận 40%, nhà thầu Z đảm nhận 20%.
Sau khi đánh giá hồ sơ dự thầu, BMT đã kiến nghị nhà thầu liên danh X+Y+Z trúng thầu do nhà thầu này có năng lực kinh nghiệm, đề xuất kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của HSMT; có điểm tổng hợp cao nhất; có giá đề nghị trúng thầu không vượt quá giá gói thầu được duyệt.
Hỏi: đúng hay không?

Gợi ý trả lời

1/ Căn cứ:

  • Khoản 15, 35, 38 điều 4 Luật đấu thầu
  • Điểm b khoản 1 điều 5 luật đấu thầu

2/ Phân tích, nhận xét:

  • Từng thành viên liên danh đều là thầu chính.
  • Theo điểm b khoản 1 điều 5 luật đấu thầu: Văn phòng đại diện của nhà thầu Z tại Việt Nam không đáp ứng tư cách hợp lệ của nhà thầu, không phải là đơn vị hạch toán tài chính độc lập.
  • Theo khoản 15 điều 4 của Luật: Đấu thầu trong nước chỉ bao gồm nhà thầu trong nước tham dự, doanh nghiệp Z không phải nhà thầu trong nước nên không đáp ứng yêu cầu này, do vậy liên danh không đáp ứng yêu cầu.

3/ Kết luận:
Việc BMT kiến nghị trúng thầu đối với nhà thầu liên danh X+Y+Z như nêu trên không phù hợp với quy định của pháp luật đấu thầu.

Câu 4: Quy trình chi tiết lựa chọn nhà thầu theo phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ đối với gói thầu mua sắm hàng hoá? Khi thực hiện quy trình này có phải thẩm định danh sách nhà thầu đạt yêu cầu kỹ thuật, thẩm định danh sách xếp hạng nhà thầu hay không? Giải thích?

Gợi ý trả lời

1/ Căn cứ:
- Đối với không qua mạng:
+ Điều 21 NĐ 63
+ Điểm c + e Khoản 1 Điều 106 NĐ 63
- Đối với qua mạng:
+ Thông tư 04/2017/TT-BKHĐT;
+ Thông tư 05/2020/TT-BKHĐT

2/ Phân tích, nhận xét: trích dẫn các điều khoản để đưa ra kết luận.
- Chép quy trình tại Điều 21 NĐ63 nếu là đấu thầu không qua mạng
- Chép quy trình theo TT04/2017; TT05/2020 nếu là đấu thầu qua mạng
Theo Điểm c + e Khoản 1 Điều 106 NĐ 63, không phải thẩm định danh sách xếp hạng nhà thầu