Giải pháp đào tạo toàn diện cho Doanh nghiệp

Con người - Quy trình - Công nghệ

Bài tự luận

ĐỀ SỐ 8

Hệ thống ôn tập thi chứng chỉ hành nghề Đấu thầu
Câu 1: Hồ sơ mời thầu của gói thầu xây lắp X quy định tiến độ thi công hạng mục A: 100 ngày, hạng mục B: 50 ngày và tổng tiến độ thi công của gói thầu là 150 ngày kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực. Đơn dự thầu và biểu tiến độ thi công trong đề xuất về kỹ thuật của nhà thầu Y chỉ nêu tiến độ thực hiện thi công hạng mục A: 90 ngày, hạng mục B: 50 ngày mà không ghi tổng thời gian thi công cho cả gói thầu. Hỏi: Đơn dự thầu của nhà thầu Y có được đánh giá là hợp lệ về tiến độ thực hiện hợp đồng hay không, tại sao?

Gợi ý trả lời

1) Căn cứ:
-   Khoản 1 điều 15 nghị định 63/2014/NĐ-CP

  • Khoản 1 Điều 16 nghị định 63/2014/NĐ-CP
  • Điểm b Khoản 2 Điều 18 nghị định 63/2014/NĐ-CP
2) Phân tích:
Căn cứ khoản 1 điều 15 nghị định 63/2014/NĐ-CP: Việc đánh giá hồ sơ dự thầu phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu, căn cứ vào hồ sơ dự thầu đã nộp, các tài liệu giải thích, làm rõ hồ sơ dự thầu của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu.
Theo Khoản 1 Điều 16 nghị định 63/2014/NĐ-CP: Sau khi mở thầu, nhà thầu có trách nhiệm làm rõ hồ sơ dự thầu theo yêu cầu của bên mời thầu. Trường hợp hồ sơ dự thầu của nhà thầu thiếu tài liệu chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu làm rõ, bổ sung tài liệu để chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm
Do đó cần tổng thời gian thực hiện của gói thầu ghi trong biên bản mở thầu và đề xuất kỹ thuật. 

3) Kết luận
Nếu nhà thầu trả lời công văn làm rõ thời gian thực hiện các công việc của gói thầu là 140 ngày (90+50) như vậy là không vượt quá 150 ngày thì trong trường hợp này nhà thầu được đánh giá đáp ứng yêu cầu về tiến độ và đơn dự thầu đc đánh giá là hợp lệ.

Câu 2: HSMT gói thầu xây lắp G quy định nhà thầu chính được sử dụng nhà thầu phụ thực hiện các công việc với tổng giá trị không vượt 25% giá dự thầu của nhà thầu. Nhà thầu A tham dự thầu đề xuất dành cho nhà thầu phụ giá trị công việc là 26% trên giá dự thầu. Tổ chuyên gia đánh giá tỷ lệ giá trị công việc của nhà thầu A dành cho thầu phụ vượt quá
quy định trong hồ sơ mời thầu và loại nhà thầu A. Hỏi: Anh/chị hãy bình luận về cách thức xử lý nêu trên của tổ chuyên gia.

Gợi ý trả lời

1/Căn cứ:
- Khoản 1, điều 15; Điểm a Khoản 3, Điểm a Khoản 4, Khoản 5 Điều 19 Nghị định 63/2014/NĐ-CP
-  Mục 31. Nhà thầu phụ thuộc Chương I, Chỉ dẫn nhà thầu trong Mẫu Hồ sơ mời thầu xây lắp (Mẫu số 01) của Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT

2/Phân tích:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định 63/2014/NĐ-CP về nguyên tắc đánh giá hồ sơ dự thầu thì: Việc đánh giá hồ sơ dự thầu phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu, căn cứ vào hồ sơ dự thầu đã nộp, các tài liệu giải thích, làm rõ hồ sơ dự thầu của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu.
Do đó, trong trường hợp tiêu chí nhà thầu phụ thực hiện các công việc với tổng giá trị không vượt 25% giá dự thầu của nhà thầu được đưa vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu thì việc Nhà thầu A đề xuất dành cho nhà thầu phụ giá trị công việc là 26% trên giá dự thầu là không đáp ứng yêu cầu của HSMT nên việc Tổ chuyên gia loại nhà thầu A là phù hợp với quy định của pháp luật đấu thầu.
Bên cạnh đó theo quy định của Mục 31. Nhà thầu phụ thuộc Chương I, Chỉ dẫn nhà thầu trong Mẫu Hồ sơ mời thầu xây lắp (Mẫu số 01) của Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT thì: ..việc sử dụng nhà thầu phụ vượt quá tỷ lệ theo quy định tại Mục 31.2 CDNT chỉ được thực hiện khi có lý do xác đáng, hợp lý và được Chủ đầu tư chấp thuận…
Ngoài ra, tại Điểm a Khoản 3, Điểm a Khoản 4, Khoản 5 Điều 19 Nghị định 63/2014/NĐ-CP quy định về Thương thảo hợp đồng như sau:

3. Nguyên tắc thương thảo hợp đồng:
- Không tiến hành thương thảo đối với các nội dung mà nhà thầu đã chào thầu theo đúng yêu cầu của hồ sơ mời thầu;

4. Nội dung thương thảo hợp đồng:
- Thương thảo về những nội dung chưa đủ chi tiết, chưa rõ hoặc chưa phù hợp, thống nhất giữa hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu, giữa các nội dung khác nhau trong hồ sơ dự thầu có thể dẫn đến các phát sinh, tranh chấp hoặc ảnh hưởng đến trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng;

5. Trong quá trình thương thảo hợp đồng, các bên tham gia thương thảo tiến hành hoàn thiện dự thảo văn bản hợp đồng; điều kiện cụ thể của hợp đồng, phụ lục hợp đồng gồm danh mục chi tiết về phạm vi công việc, biểu giá, tiến độ thực hiện (nếu có).
Như vậy trong trường hợp nội dung nhà thầu phụ thực hiện các công việc với tổng giá trị không vượt 25% giá dự thầu của nhà thầu không được quy định vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu mà chỉ được quy định tại Điều kiện cụ thể của hợp đồng thì Tổ chuyên gia không được loại nhà thầu vì lý do tỷ lệ giá trị công việc của nhà thầu A dành cho thầu phụ vượt quá quy định trong hồ sơ mời thầu. Nếu nhà thầu A xếp hạng thứ nhất được mời đến thương thảo hợp đồng thì Nhà thầu A và Bên mời thầu khi tiến hành thương thảo phải có nội dung thống nhất về giá trị dành cho nhà thầu phụ.

3/Kết luận:
Trường hợp 1: nội dung nhà thầu phụ thực hiện các công việc với tổng giá trị không vượt 25% giá dự thầu của nhà thầu được đưa vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu thì Tổ chuyên gia loại nhà thầu A là phù hợp với quy định của pháp luật đấu thầu.
Trường hợp 2: nội dung nhà thầu phụ thực hiện các công việc với tổng giá trị không vượt 25% giá dự thầu của nhà thầu không được quy định vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu mà chỉ được quy định tại Điều kiện cụ thể của hợp đồng thì Tổ chuyên gia loại nhà thầu A là không phù hợp với quy định của pháp luật đấu thầu.

Câu 3: Nhà thầu A tham gia đấu thầu gói thầu cung cấp thiết bị B. Giá dự thầu nêu trong đơn dự thầu là 40 tỷ đồng. Nhà thầu A có đính kèm thư giảm giá với mức giảm giá 10% giá dự thầu, giá dự thầu sau giảm giá là 36 tỷ đồng. Tuy nhiên trong quá trình đánh giá về tài chính, thương mại, giá trị sai lệch thiếu của hồ sơ dự thầu là 1 tỷ đồng.
Hỏi: Anh/chị hãy xác định tỷ lệ phần trăm của sai lệch thiếu của nhà thầu A nêu
trên.

Gợi ý trả lời

1/ Căn cứ:

  • Điểm d Khoản 1 điều 43 luật đấu thầu
  • Điểm c Khoản 2 điều 17 nghị định 63

2/ Phân tích, nhận xét và kết luận:
Trích điểm c khoản 2 Điều 17NĐ 63: chép ra
Sai lệch thiếu chia cho giá dự thầu trong đơn chưa trừ giá trị giảm giá.
1 tỷ/40 tỷ x 100/100= 2,5%

Câu 4: Nhà thầu liên danh X-Y tham dự thầu gói thầu tư vấn A. Trong quá trình đánh giá HSDT, tổ chuyên gia phát hiện thành viên liên danh X sử dụng nhân sự của thành viên liên danh Y cho phần công việc mà mình đảm nhận. Tuy nhiên, tổ chuyên gia vẫn đánh giá liên danh X-Y đáp ứng về nội dung này với lý do nhà thầu X và nhà thầu Y đều là thành viên trong một liên danh tham dự thầu nên việc huy động nhân sự trong liên danh là phù hợp. Hỏi: việc đánh giá của tổ chuyên gia như nêu trên có phù hợp quy định của pháp luật về đấu thầu?

Gợi ý trả lời

  1. Căn cứ:
  • Khoản 1 điều 15 nghị định 63
  • Mục 23 chương I Chỉ dẫn nhà thầu mẫu hồ sơ mời thầu tư vẫn ban hành kèm Thông tư 01/2015/TT-BKHĐT
  • Điểm a khoản 1 mục 2 chương 3 Thông tư 01/2015/TT-BKHĐT
  1. Phân tích

- Mục 23 chương I Chỉ dẫn nhà thầu mẫu hồ sơ mời thầu tư vẫn ban hành kèm Thông tư 01/2015/TT-BKHĐT. Đối với nhà thầu liên danh thì năng lực, kinh nghiệm được xác định bằng tổng năng lực, kinh nghiệm của các thành viên liên danh song phải bảo đảm từng thành viên liên danh đáp ứng năng lực, kinh nghiệm đối với phần việc mà thành viên đó đảm nhận trong liên danh; nếu bất kỳ thành viên nào trong liên danh không đáp ứng về năng lực, kinh nghiệm thì nhà thầu liên danh được đánh giá là không đáp ứng yêu cầu.

Đối với nhà thầu liên danh, việc đánh giá năng lực về tài chính và kinh nghiệm thực hiện hợp đồng tương tự căn cứ theo phần công việc từng thành viên đảm nhận trong liên danh; còn đối với năng lực về kỹ thuật thì đánh giá cho cả nhà thầu liên danh mà không căn cứ theo tỷ lệ công việc phân chia trong liên danh.

Đối với nhân sự thực hiện gói thầu, nhà thầu chỉ cần chứng minh khả năng huy động nhân sự chứ không bắt buộc nhân sự đấy phải thuộc sở hữu của nhà thầu. Hiện chỉ thị 47 cũng cấm quy định nhân sự đóng bảo hiểm tại đơn vị nhà thầu. Vì vậy việc thành viên liên danh X sử dụng nhân sự của thành viên liên danh Y cho phần công việc mà mình đảm nhận là được chấp nhận và khả thi về khả năng huy động nhân sự.

  1. Kết luận:
Việc đánh giá của tổ chuyên gia là phù hợp với quy định của pháp luật đấu thầu.